Tác giả: Mr.Printer

  • Intel Core i7-11375H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    Intel Core i7-11375H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    Intel Core i7-11375H là một CPU cao cấp dành cho máy tính xách tay chơi game mỏng nhẹ và máy trạm di động. Nó dựa trên kiến trúc Tiger Lake H35 và được công bố vào đầu năm 2021.

    Nó tích hợp 4 lõi xử lý Willow Cove (8 luồng nhờ HyperThreading). Tốc độ xung nhịp cơ bản phụ thuộc vào cài đặt TDP của từng nhà sản xuất và có thể thay đổi từ 3GHz (28 W TDP) đến 3,3 GHz (35 W). So với i7-11370H, điểm khác biệt duy nhất là Turbo Boost 3.0 bổ sung cho một lõi đơn, 11375H có thể tăng xung nhịp lên đến 5 GHz. Hai lõi có thể đạt tốc độ 4,8 GHz (như 11370H) và tất cả bốn lõi đồng loạt có thể đạt 4,3 GHz. 11375H cũng được tích hợp 12 Mb bộ nhớ đệm cấp 3.

    Xem thêm: TOP CPU tốt nhất 2021: Bộ xử lý tốt nhất cho PC đến từ Intel và AMD

    Hiệu suất xử lý của i7-11375H tương đương với i7-11370H. Chỉ khác biệt khi CPU thực hiện các công việc ngắn đơn luồng có thể nhanh hơn một chút. Hiệu suất đa luồng cao hơn Core i5-10400H cũ (Comet Lake, lõi tứ nhanh nhất của thế hệ thứ 10) do kiến ​​trúc bộ xử lý mới. CPU i7-1185G7 có thông số kỹ thuật tương tự như các 11370H TDP thấp hơn nên hiệu năng cũng thấp hơn.

    CPU cũng tích hợp card đồ họa Xe cải tiến với 96 CUs xung nhịp tối đa 1350 MHz.

    Các CPU Tiger Lake được bổ sung hỗ trợ PCIe 4 (bốn làn), tăng tốc phần cứng AI và tích hợp một phần Thunderbolt 4/USB 4 và Wi-Fi 6 trong chip.

    Intel Core i5-11300H được sản xuất trên quy trình 10nm cải tiến (được gọi là 10nm SuperFin) của Intel, có thể tương đương với quy trình 7nm tại TSMC (ví dụ như dòng Ryzen 4000).\

    SeriesIntel Tiger Lake
    Tên mãTiger Lake H35
    Series: Tiger Lake H35
    »Intel Core i7-11375H3.3 – 5 GHz4 / 88 MB
    Intel Core i7-11370H3.3 – 4.8 GHz4 / 88 MB
    Intel Core i5-11300H3.1 – 4.4 GHz4 / 88 MB
    Tốc độ lõi3300 – 5000 MHz
    Level 1 Cache320 KB
    Level 2 Cache5 MB
    Level 3 Cache8 MB
    Số lượng lõi / luồng4 / 8
    Công suất (TDP = Thermal Design Power)35 Watt
    Tiến trình sản xuất10+ nm
    Nhiệt độ tối đa100 °C
    SocketBGA1499
    Hỗ trợDL Boost, GNA, Wi-Fi 6/6e, Thunderbolt 4, DDR4-3200 / LPDDR4x-4266
    GPUIntel Iris Xe Graphics G7 96EUs (400 – 1350 MHz)
    64 Bit64 Bit support
    Kiến trúcx86
    Ngày phát hành01/11/2021

    Nguồn : Intel

  • Intel Core i7-11370H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    Intel Core i7-11370H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    Intel Core i7-11370H là một CPU lõi tứ cao cấp dành cho máy tính xách tay chơi game mỏng nhẹ và máy trạm di động. Nó dựa trên thế hệ Tiger Lake H35 và được công bố vào đầu năm 2021. Nó tích hợp 4 lõi xử lý Willow Cove (8 luồng nhờ HyperThreading). Tốc độ xung nhịp cơ bản phụ thuộc vào cài đặt TDP và có thể thay đổi từ 3 (28 W TDP) đến 3,3 GHz (35 W). Tốc độ tối đa của một hoặc hai lõi khi tải có thể đạt 4,8 GHz. Tất cả bốn lõi đồng loạt có thể đạt 4,3 GHz. 11370H cũng được trang bị 12 MB bộ nhớ đệm cấp 3.

    Hiệu năng xử lý của i7 cao hơn Core i5-10400H cũ (Comet Lake, lõi tứ nhanh nhất của thế hệ thứ 10) do kiến ​​trúc bộ xử lý mới. CPU i7-1185G7 có thông số kỹ thuật tương tự nhưng TDP thấp hơn nên hiệu năng cũng thấp hơn 11370H.

    CPU được tích hợp card đồ họa Xe nâng cấp với 96 EU có tốc độ tối đa 1350 MHz.

    Các CPU Tiger Lake được bổ sung hỗ trợ PCIe 4 (bốn làn), tăng tốc phần cứng AI và tích hợp một phần Thunderbolt 4 / USB 4 và Wi-Fi 6 trong chip.

    Intel Core i7-11370H được sản xuất trên quy trình 10nm cải tiến (được gọi là 10nm SuperFin) của Intel, có thể tương đương với quy trình 7nm tại TSMC (ví dụ như dòng Ryzen 4000).

    SeriesIntel Tiger Lake
    Tên mãTiger Lake H35
    Series: Tiger Lake H35
    Intel Core i7-11375H3,3 – 5 GHz4/88 MB
    »Intel Core i7-11370H3,3 – 4,8 GHz4/88 MB
    Intel Core i5-11300H 3,1 – 4,4 GHz4/88 MB
    Tốc độ lõi3300 – 4800 MHz
    Level 1 Cache320 KB
    Level 2 Cache5 MB
    Level 3 Cache8 MB
    Số lượng lõi / luồng4/8
    Công suất (TDP = Thermal Design Power)35 Watt
    Tiến trình sản xuất10+ nm
    Nhiệt độ tối đa100 ° C
    SocketBGA1499
    Hỗ trợDL Boost, GNA, Wi-Fi 6/6e, Thunderbolt 4, DDR4-3200 / LPDDR4x-4266
    GPUĐồ họa Intel Iris Xe G7 96EU (400 – 1350 MHz)
    64 bitHỗ trợ 64 Bit
    Kiến trúcx86
    Ngày phát hành01/11/2021
  • Intel Core i5-11300H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    Intel Core i5-11300H Thông số kỹ thuật và đánh giá

    intel i5 11300h gen 11

    Intel Core i5-11300Hmột CPU tầm trung dành cho máy tính xách tay chơi game mỏng nhẹ và máy trạm di động. Nó dựa trên kiến trúc Tiger Lake H35 và được công bố vào đầu năm 2021.

    Nó tích hợp 4 lõi xử lý Willow Cove (8 luồng nhờ HyperThreading). Tốc độ xung nhịp cơ bản phụ thuộc vào cài đặt TDP của từng nhà sản xuất và có thể thay đổi từ 2,6 (28 W TDP) đến 3,1 GHz (35 W). Tốc độ tối đa của một hoặc hai lõi khi tải có thể lên đến 4,4 GHz. Tất cả bốn lõi đồng loạt có thể đạt tối đa 4 GHz. Bộ nhớ đệm L3 giảm xuống còn 8 MB so với 12 MB của các mẫu i7.

    Hiệu suất cao hơn một chút so với Core i5-1145G7 (TDP 12 – 28 W và tốc độ cơ bản thấp hơn). So với Core i5-10300H cũ (Comet Lake), 11300H sẽ nhanh hơn nhờ kiến ​​trúc CPU mới.

    CPU cũng tích hợp card đồ họa Xe cải tiến với 80 CUs xung nhịp tối đa 1300 MHz.

    Các CPU Tiger Lake được bổ sung hỗ trợ PCIe 4 (bốn làn), tăng tốc phần cứng AI và tích hợp một phần Thunderbolt 4/USB 4 và Wi-Fi 6 trong chip.

    Intel Core i5-11300H được sản xuất trên quy trình 10nm cải tiến (được gọi là 10nm SuperFin) của Intel, có thể tương đương với quy trình 7nm tại TSMC (ví dụ như dòng Ryzen 4000).\

       Xem giá  

    SeriesIntel Tiger Lake
    Tên mãTiger Lake H35
    Series: Tiger Lake H35
    Intel Core i7-11375H3.3 – 5 GHz4 / 88 MB
    Intel Core i7-11370H3.3 – 4.8 GHz4 / 88 MB
    » Intel Core i5-11300H3.1 – 4.4 GHz4 / 88 MB
    Tốc độ lõi3100 – 4400 MHz
    Level 1 Cache320 KB
    Level 2 Cache5 MB
    Level 3 Cache8 MB
    Số lượng lõi / luồng4 / 8
    Công suất (TDP = Thermal Design Power)35 Watt
    Tiến trình sản xuất10+ nm
    Nhiệt độ tối đa100 °C
    SocketBGA1499
    Hỗ trợDL Boost, GNA, Wi-Fi 6/6e, Thunderbolt 4, DDR4-3200 / LPDDR4x-4266
    GPUIntel Iris Xe Graphics G7 80EUs (400 – 1300 MHz)
    64 Bit64 Bit support
    Kiến trúcx86
    Ngày phát hành01/11/2021

    Nguồn : Intel

  • Apple M1 đã mở đầu cuộc chiến hiệu năng, Intel tham chiến với CPU Alder Lake

    Apple M1 đã mở đầu cuộc chiến hiệu năng, Intel tham chiến với CPU Alder Lake

    Chip thế hệ thứ 12 của Intel sẽ thách thức CPU Arm và M1 của Apple vào cuối năm nay theo thông báo của Intel tại CES

    Intel công bố bản giới thiệu phiên bản chip lớn tiếp theo của mình : chipset lai Alder Lake – giống như người tiền nhiệm Lakefield – Phiên bản mới sẽ sử dụng cách tiếp cận tương tự như công nghệ BIG.little của Arm, sử dụng các lõi tốc độ cao và hiệu quả hơn được đóng gói trong một chip để tối đa hóa cả sức mạnh và hiệu quả.

    Khác với phiên bản Lakefield chủ yếu tập trung vào các thiết bị di động, Alder Lake sẽ nhắm đến mục tiêu nền tảng cho các bộ vi xử lý di động và máy tính để bàn trong tương lai, với các sản phẩm đầu tiên sử dụng “most power-scalable system-on-chip” vào nửa sau của năm 2021.

    Các chip Alder Lake thế hệ thứ 12 sẽ có “phiên bản mới, nâng cao” sản xuất trên tiến trình 10nm SuperFin đã được thấy trong chip Tiger Lake thế hệ thứ 11 của Intel, các lõi năng lượng cao mới được đặt tên Golden Lake kết hợp với lõi Gracemont mới để tăng hiệu quả sử dụng. (Các lõi kiến trúc Tiger Lake được gọi là Willow Cove.)

    Nhưng điều đáng chú ý là mục tiêu mà Intel nhắm tới ở đây, với các kế hoạch về chip lai sẽ có quy mô vượt ra khỏi các thiết bị di động đơn giản.

    Thời điểm giới thiệu được cho là nhằm động thái đáp trả của Intel: chip Alder Lake đại diện cho sản phẩm của Intel trong cuộc chiến hiệu năng. Phía bên kia chiến tuyến là các chip dựa trên Arm được tung ra gần đây, như bộ xử lý M1 đang tạo nên làn sóng mới trong giới công nghệ mà Apple đã giới thiệu vào tháng 11 .

    Thực tế là Intel đang muốn mở rộng quy mô chip lai của mình trên toàn bộ dòng sản phẩm của mình cho thấy công ty đang muốn cạnh tranh thành công của Apple Arm với công nghệ của riêng mình trong tương lai – một ý tưởng mới đặc biệt hấp dẫn, đặc biệt trong tình hình hiện nay thị trường chip truyền thống của Intel đang bị đe dọa bởi AMD.

    Nguồn: Intel

  • Lịch sử máy tính PC: Apple II Đối thủ vĩ đại – Phần 2

    Lịch sử máy tính PC: Apple II Đối thủ vĩ đại – Phần 2

    Máy tính để bàn Apple II

    Apple đối thủ lịch sử của PC

    Nếu không có Apple II, có thể máy tính để bàn sẽ không bao giờ tồn tại. Mặc dù điều này vẫn gây tranh luận, nhưng nhìn chung mọi người đều đồng ý Apple II có ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử PC.

    Nhiều kỹ sư của IBM cũng sở hữu Apple II và như nhiều khách hàng khác, họ đều có đánh giá chung rằng có thể dễ dàng thực hiện các công việc trên Apple II. Ví dụ như làm việc trên bảng tính là điều gần như không thể trên một máy tính lớn khổng lồ vào thời điểm đó.

    Apple II sử dụng bộ vi xử lý MOS 6502 8-bit, với RAM từ 4KB đến 64KB, được phát hành lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1977 với mức giá thấp nhất là 1.298 đô la. Nó đã đạt được thành công đáng kinh ngạc từ năm 1977 đến năm 1993.

    Được phát triển bởi Steve Wozniak, Apple II hoàn toàn trái ngược với các sản phẩm được phát triển bởi Steve (Mr Jobs) sau này của Apple.

    Về cơ bản, Apple II được thiết kế theo kiến ​​trúc mở, Vỏ máy được thiết kế một nắp có thể tháo rời cho phép dễ dàng thao tác với bo mạch chủ và các khe cắm mở rộng. Giống như PC, Apple II là nguyên mẫu của rất nhiều bản sao trong nhiều năm sau đó.

    Mặc dù PC ra mắt sau và hiện đại hơn, Apple II vẫn giữ được những lợi thế so với PC, chẳng hạn như có 8 khe cắm mở rộng so với 5 khe cắm của PC và chơi game thuận tiện hơn nhiều, hỗ trợ cần điều khiển đi kèm và trò chơi được tải chỉ trong vài giây.

    Phần mềm của PC

    Bận rộn với việc tối ưu phần cứng, gánh nặng phát triển hệ điều hành phần lớn do Microsoft đảm nhiệm, IBM tập trung vào cung cấp cho người tiêu dùng PC DOS.

    Chiếc máy cuối cùng được đặt tên là IBM Model Number 5150. Nhưng tên gọi này bị lãng quên ngay lập tức, vì trong tiêu đề của mọi tờ báo, nó được gọi là Máy Tính Cá Nhân (PC – Personal Computer) của IBM.

    Máy Tính Cá Nhân (PC - Personal Computer) của IBM

    Sau 12 tháng phát triển, IBM đã công bố Máy tính cá nhân mới của mình vào ngày 12 tháng 8 năm 1981. Phiên bản rẻ nhất có giá 1.565 đô la bao gồm 16KB RAM, đồ họa CGA và giắc cắm đầu vào, cùng với tùy chọn khay cassette – người dùng có thể lắp băng từ hoặc ổ đĩa tùy chọn.

    Các đối thủ như RadioShack và Apple không hề quan tâm. Steve Jobs đã mua một chiếc để mổ xẻ và tỏ ra không mấy ấn tượng với các công nghệ lỗi thời của nó.

    Trong thời điểm ra mắt, Apple đã đăng một quảng cáo toàn trang với nội dung “Chào mừng, IBM. Nghiêm túc.” Nhưng Apple không nhận ra sức nặng của một công ty như IBM đối với các doanh nghiệp.

    Mặc dù sản phẩm của IBM thua kém về nhiều mặt so với các đối thủ cạnh tranh rẻ hơn, nhưng các doanh nghiệp vẫn coi IBM là một lựa chọn an toàn, cùng với sự hỗ trợ khách hàng tuyệt vời.

    Trong vòng một năm, PC đã vượt qua Apple II để trở thành máy tính để bàn bán chạy nhất. Năm 1983, 2/3 khách hàng doanh nghiệp tiêu chuẩn hóa PC làm máy tính cho cơ quan, chỉ 9% chọn Apple – và đến năm 1984, doanh thu hàng năm của PC đã tăng gấp đôi Apple.

    IBM đã khiến ngành công nghiệp điện toán ngạc nhiên khi phá vỡ truyền thống của chính mình. Họ không chỉ đào tạo dịch vụ cho nhân viên không phải của IBM mà chia sẻ rộng rãi các thông số kỹ thuật, tài liệu chi tiết công nghệ bên trong PC cho các nhà phát triển thiết bị ngoại vi và phần mềm của bên thứ ba.

    Trong vòng vài năm, PC đã chở thành tiêu chuẩn mới cho máy tính để bàn, tạo ra một ngành khổng lồ thị trường các thiết bị ngoại vi rộng mở.

    Năm 1982, PC được cập nhật lên tiêu chuẩn XT (Công nghệ eXtended) của IBM, loại bỏ giắc cắm cassette và thêm một đĩa cứng 10MB. Đây là PC đầu tiên có đĩa cứng theo tiêu chuẩn.

    Tháng 8 năm 1984 IBM phát hành bản cập nhập lớn tiếp theo, PC/AT (Advanced Technology). Sử dụng Intel 80286 6MHz (hay còn gọi là 286 – không ai sử dụng tiền tố ’80’ nữa), nó đi kèm với 256KB RAM, có thể nâng cấp tối đa 16MB.

    Các phiên bản ban đầu bị giới hạn ở đồ họa CGA và đơn sắc, nhưng tiêu chuẩn EGA 16 màu mới của IBM được phát hành sau đó không lâu, cho phép hiển thị 16 màu ở độ phân giải 640×350. Đây là một bước tiến lớn đối với PC, nó tạo ra di sản mà chúng ta vẫn nhận ra ở thời điểm hiện tại, với những thứ như khoang ổ đĩa được tiêu chuẩn hóa, điểm gắn bo mạch chủ và bố cục bàn phím cơ bản mà chúng ta vẫn sử dụng cho đến nay.

    Mặc dù thành công với các doanh nghiệp, nhưng chiếc PC đầu tiên lại quá đắt đối với người dùng gia đình. Giá của phiên bản thấp nhất không quá cao, nhưng nó không bao gồm màn hình hoặc ổ đĩa mềm; phiên bản RAM 64KB với ổ đĩa mềm và màn hình có giá hơn 3.000 đô la (hơn 8.000 đô la ngày nay).

    Các đối thủ đã đánh hơi thấy cơ hội, và với một kiến ​​trúc mở, sẽ không lâu nữa trước khi các bản sao của IBM xuất hiện.

    Dòng sản phẩm PCjr

    Dòng sản phẩm PCjr

    PCjr có thông số hấp dẫn: CPU Intel 8088, đồ họa CGA Plus và chip âm thanh Sega. IBM tung ra một chiếc máy tính phổ thông có khả năng tương thích với PC, đồ họa và âm thanh được cải thiện với mức giá thấp hơn (1.269 USD). Pundits đã dự báo PCjr sẽ gây bão trên thị trường, nhưng khi phát hành, nó đã gây bất ngờ theo chiều hướng ngược lại.

    Commodore 64 chỉ bằng một phần ba giá, nhanh hơn, đồ họa tốt hơn và thư viện phần mềm khổng lồ. Phần cứng đặc biệ và sự tối ưu cho dòng PCjr cũng có nghĩa là nó chỉ tương thích một phần với PC, khiến nó thất bại trước các khách hàng game thủ cũng như người dùng doanh nghiệp. Điều thực sự khiến người tiêu dùng thất vọng là bàn phím chiclet bằng cao su khủng khiếp: một chiếc máy tính tương đối đắt tiền – của một công ty nổi tiếng với bàn phím chất lượng thua một thứ có giá $ 99 rất nhỏ.

    Doanh thu ban đầu là một thảm họa, nhưng một chiến dịch giảm giá, quảng cáo và nâng cấp (đặc biệt là bàn phím) đã xoay chuyển tình thế, khiến PCjr kéo lại một chút thành công. Tuy nhiên, danh tiếng của nó đã bị tổn hại và bị khai tử vào năm 1985.

    Sự gia tăng của các nhà sản xuất PC

    Ban đầu IBM không quan tâm. Các linh kiện PC hầu hết có thể được sao chép và thương mại, Nhưng BIOS vẫn độc quyền của IBM để đảm bảo khả năng tương thích với hệ thống của IBM.

    Tuy nhiên, các công ty như Award và American Megatrends đã thiết kế ngược lại BIOS của IBM, và các công ty như Dell, Compaq và HP sau đó đã sử dụng BIOS sao chép để tạo ra các PC của riêng họ.

    Bản sao đầu tiên đến từ Columbia Data Products với MPC 1600 phát hành năm 1982, nhưng năm 1983 chứng kiến ​​bước ngoặt của Compaq Portable, máy tính đầu tiên gần như hoàn toàn tương thích với IBM.

    Compaq đã sử dụng BIOS của riêng mình và thiết kế lại diện mạo cho máy tính để bàn, với tất cả các thành phần trong một hộp, bao gồm cả một màn hình CRT nhỏ.

    Khi IBM phát hành chiếc PCjr giá rẻ vào năm 1984, RadioShack đã tạo ra một bản sao, Tandy 1000. Nó thành công hơn nhiều so với PCjr, với khả năng tương thích tốt hơn.

    Sau khi PCjr bị khai tử, phần mềm và thiết bị ngoại vi của nó được Tandy kế thừa. Các sản phẩm nhái rẻ hơn rất nhiều đang làm xói mòn quyền kiểm soát của IBM đối với thị trường, thị phần của IBM giảm từ 76% năm 1983 xuống còn 26% vào năm 1986.

    Hết Phần 2 – Vui lòng đón đọc phần 3

    Các bài viết trong seri này:

     

    Nguồn: Biên tập thietbiketnoi.com

  • Core Web Vitals là gì ? Bạn có thể làm gì để tối ưu trải nghiệm người dùng

    Core Web Vitals là gì ? Bạn có thể làm gì để tối ưu trải nghiệm người dùng

    Core Web Vitals là gì

    Core Web Vitals là gì ?

    Đối với những người không quen thuộc, Core Web Vitals là một tập hợp các chỉ số trải nghiệm trang được tạo thành từ các số liệu thực tế và các phép đo của các công cụ. Mặc dù các số liệu thực tế cung cấp tình trạng trong thế giới thực cho chủ sở hữu trang web, các  công cụ đo lường được cung cấp cho nhà xuất bản là cách kiểm tra và chẩn đoán hiệu suất của trang web của họ để xác định các lĩnh vực cần cải thiện.

    Ba yếu tố chính của trải nghiệm trang – Core Web Vitals

    • Hiệu suất tải (tốc độ nội dung hiển thị trên màn hình)
    • Khả năng phản hồi (trang phản ứng nhanh như thế nào khi người dùng click vào web?)
    • Tính ổn định về hình ảnh (mọi thứ có di chuyển trên màn hình trong khi tải không?)

    Để đo lường các khía cạnh này của trải nghiệm người dùng, Google đã sử dụng ba chỉ số tương ứng – còn gọi là Core Web Vitals:

    LCP (Largest Contentful Paint): Chỉ số này đo thời gian để phần nội dung lớn nhất xuất hiện trên màn hình. Đây có thể là một hình ảnh hoặc một khối văn bản. Nó mang lại trải nghiệm cho người dùng cảm giác rằng trang web tải nhanh. Trang web chậm có thể gây trải nghiệm không tốt cho người dùng.

    FIS (First Input Delay): Chỉ số này đo lường thời gian trang web phản ứng với tương tác đầu tiên của người dùng. Ví dụ, có thể là khi người dùng nhấn vào một nút. Trải nghiệm này mang đến cho người dùng cảm giác rằng đó là một trang web phản ứng nhanh.

    CLS (Cumulative Layout Shift): Chỉ số này đo độ ổn định trực quan của trang web. Nói cách khác, nội dung (hình ảnh) có di chuyển trên màn hình khi trang đang tải không – và điều đó có thường xuyên xảy ra không? Không có gì khó chịu hơn việc bạn bấm vào một đường link nhưng khi vừa chạm, một nội dung khác lại hiện ra ở vị trí đó.

    Khi Google bắt đầu xếp hạng các trang web bằng Core Web Vitals vào năm 2021, các số liệu này sẽ được sử dụng để tạo ra điểm số cho các trang web trong xếp hạng.

    Công cụ google cung cấp để kiểm tra tốc độ trang web của bạn : https://developers.google.com/speed/pagespeed/insights/

    Về tốc độ tải, số liệu cụ thể về tốc độ LCP và FID lý tưởng và độ ổn định hình ảnh CLS . Các chỉ số hiệu suất tối ưu lần lượt là dưới 2,5 giây, dưới 100 mili giây và dưới 0,1.

    Lưu ý: tốc độ chỉ là một yếu tố khi nói đến Trải nghiệm trang của google Google.

    Sang năm 2021, Google giới thiệu các yếu tố xếp hạng mới đánh giá các trang web dựa trên chất lượng trải nghiệm người dùng và những thay đổi này đã khiến một số chủ sở hữu trang web tự hỏi liệu việc chặn người dùng từ các quốc gia có internet chậm có thể cải thiện Core Web Vitals của họ hay không .

    Trong một video JavaScript SEO Office Hours gần đây, Martin Splitt của Google đã trả lời một câu hỏi về việc liệu điểm Core Web Vitals có thể được cải thiện hay không bằng cách chặn người dùng từ các quốc gia có kết nối internet chậm.

    Cải thiện Vitals Core Web

    Trong phản hồi của mình, Splitt lưu ý rằng ngay cả khi bạn chặn người dùng từ một số quốc gia nhất định, họ vẫn có thể sử dụng VPN để truy cập. Điều này sau sẽ thực sự gây hại cho Core Web Vitals của bạn vì việc sử dụng VPN sẽ làm giảm tốc độ của người dùng và gây trải nghiệm xấu trên trang web của bạn.

    Splitt tiếp tục làm rõ rằng Core Web Vitals không phải là yếu tố duy nhất mà chủ sở hữu trang web cần xem xét: “Vấn đề là, Core Web Vitals và Page Experience là một yếu tố xếp hạng trong số hàng trăm yếu tố xếp hạng. Vì vậy, bạn không nên đánh giá quá cao sức mạnh của yếu tố xếp hạng này. Nó quan trọng. Nhưng không phải là quan trọng nhất. Và tôi nghĩ nếu bạn có thông tin hữu ích và bạn đưa thông tin này đến mọi người và bạn sẽ nhận được một số ROI. Bởi vì một lần nữa, có hàng trăm yếu tố xếp hạng. Tốc độ không phải là điều duy nhất. Ví dụ nếu tốc độ là thứ duy nhất, thì một trang web trống sẽ xếp hạng thực sự tốt bởi vì nó thực sự rất, rất nhanh”

    Mặc dù Core Web Vitals là yếu tố quan trọng đối với xếp hạng của một trang web, nhưng việc cố gắng thực hiện thái quá các bước để thao túng những điểm số này có thể dẫn đến việc làm hại điểm số SEO của bạn.

    Nguồn: biên tập thietbiketnoi.com

  • CES 2021: bo mạch chủ Intel Z590 đã xuất hiện và chúng có diện mạo hoàn toàn mới

    CES 2021: bo mạch chủ Intel Z590 đã xuất hiện và chúng có diện mạo hoàn toàn mới

    Tại CES 2021, tính thẩm mỹ của bo mạch chủ thế hệ mới được trau chuốt.

    Hôm nay tại CES 2021, Intel đã hé lộ về bộ vi xử lý Rocket Lake-S thế hệ thứ 11, đầu tiên là Intel Core i9-11900K. Nhưng một bộ vi xử lý mới không thể phát huy hết sức mạnh nếu thiếu bo mạch chủ hỗ trợ nó, và sau thông báo về bộ vi xử lý mới, chúng ta đã bắt đầu thấy một số thiết kế bo mạch 500-series hỗ trợ nó.

    Asus, MSI, Colorful và các nhà sản xuất khác đều đã ra mắt bo mạch chủ 500-series tại CES 2021 và một số bo mạch chủ Z590 thực sự trông rất bắt mắt. Những bo mạch chủ này sẽ tương thích ngược với bộ vi xử lý Intel thế hệ thứ 10 Comet Lake-S hiện tại, nhưng chúng được tối ưu đầy đủ với tất cả các tính năng của chip thế hệ thứ 11 sắp tới.

    Các bo mạch chủ này sẽ hỗ trợ khe PCIe 4.0, thứ còn thiếu trong Comet Lake-S – (các bo mạch chủ được AMD trang bị công nghệ này từ giữa năm 2019). Intel Rocket Lake-S cũng sẽ hỗ trợ bộ nhớ nhanh hơn – DDR4-3200 so với DDR4-2933 trước đây.

    Chúng tôi không chắc khi nào những mainboard này sẽ đến tay bạn, vì điều đó phụ thuộc vào thời điểm Intel tung ra nền tảng thế hệ thứ 11 của mình. Tuy nhiên, Intel tuyên bố rằng Rocket Lake-S sẽ bắt đầu được thương mại vào quý 1 năm 2021, vì vậy chúng ta có thể sẽ thấy những bo mạch chủ này ra mắt sớm.

    Dưới đây là các mẫu mainboard 500-series ấn tượng nhất mà chúng tôi thấy.

    Nguồn: biên tập thietbiketnoi.com

  • CES 2021 Sony trình diễn máy bay không người lái Airpeak lần đầu ra công chúng

    CES 2021 Sony trình diễn máy bay không người lái Airpeak lần đầu ra công chúng

    Máy bay không người lái Sony Airpeak đã được trình diễn lần đầu tiên tại CES 2021 – Mức giá của nó không phải là đối thủ của DJI.

    Sony lần đầu tiên công bố dự án máy bay không người lái drone Airpeak vào tháng 11 năm 2020, nhưng không tiết lộ bất kỳ hình ảnh hoặc chi tiết nào về drone mà hãng đang phát triển. Nhưng bây giờ chúng ta đã có thể xem một số video về hoạt động của Airpeak tại CES 2021 – Những cái nhìn ban đầu cho thấy nó nhắm đến thị trường chuyên nghiệp cao cấp.

    Nó được nhắm vào đối thủ chuyên nghiệp của DJI Inspire 2, thay vì các drone giá cả phải chăng như DJI Mavic Air 2 . Điều đó có thể làm thất vọng những người có sở thích chụp ảnh, nhưng các nhà quay phim chuyên nghiệp sẽ thích thú với một chiếc Sony A7S III có thể bay, đó là chiếc máy ảnh mà drone Airpeak sử dụng để trình diễn trong không trung.

    Trong thông báo ngắn gọn của mình, Sony cho biết họ sẽ phát triển một lĩnh vực kinh doanh mới nhắm vào “sản xuất video và nhiếp ảnh chuyên nghiệp” trong nửa đầu năm 2021. Theo Sony đây là “loại drone nhỏ nhất trong ngành có thể được trang bị hệ thống Alpha”, giúp các nhà quay phim và chụp ảnh có được những bức ảnh toàn khung hình trên không trung.

    Trong video giới thiệu, Airpeak có khả năng quay một số video ngoạn mục khi đang di chuyển ở tốc độ khá cao.

    Các chi tiết khác mà chúng ta có thể thu thập được từ video là Airpeak có thiết kế quadcopter (4 cánh quạt) và thiết bị hạ cánh ấn tượng, có thể thu lại sau khi cất cánh. Đoạn video cũng tiết lộ rằng Airpeak sẽ là một bộ phụ kiện đắt tiền, mặc dù Sony vẫn chưa tiết lộ bất kỳ điều gì về giá cả hoặc tính năng chi tiết.

    Giai đoạn đầu của Airpeak

    Mặc dù Sony tiết lộ rất ít chi tiết về Airpeak, nhưng qua video và thông cáo báo chí đã trả lời câu hỏi chính của chúng tôi – đó sẽ là một drone phổ thông hay một công cụ cao cấp cho các nhà quay phim? Nhưng bây giờ, chắc chắn Airpeak đang nhắm đến mục tiêu thứ hai.

    Điều đó hơi thất vọng đối với nhiều người đang hy vọng Sony có thể cạnh tranh với DJI trong không gian drone phổ thông, các phiên bản trên không của máy ảnh giá cả phải chăng hơn như dòng Sony RX100.

    Nhưng đây mới chỉ là giai đoạn đầu của Airpeak. Tại CES 2021, Sony nói rằng công cụ chụp ảnh và video chuyên nghiệp của họ sẽ là “giai đoạn đầu của dự án này”. Chúng ta vẫn có thể mong đợi thương hiệu Airpeak cuối cùng có thể được sử dụng trên các máy bay không người lái giá cả phải chăng hơn có thể cạnh tranh với những chiếc DJI Mavic 2 Pro.

    Việc khởi động với một drone chuyên nghiệp có rất nhiều ý nghĩa đối với Sony – đó là thị trường lớn nhất trong mảng máy chụp ảnh, như Sony A7S III và Sony A7R IV , đang nhắm đến. Ngoài ra, Airpeak được định hình như một thương hiệu cao cấp của Sony cho các nhà làm phim chuyên nghiệp và những nghệ sĩ tham vọng.

    Hiện tại, có vẻ như DJI và Skydio sẽ tiếp tục thống trị trong phân khúc drone giá cả phải chăng.

    Nguồn: Sony

  • Sony nâng màn hình LED quảng cáo lên một cấp độ mới ở Hollywood

    Sony nâng màn hình LED quảng cáo lên một cấp độ mới ở Hollywood

    Sony sẽ bắt đầu bán bộ màn hình ảo tương tự cách các nhà làm phim The Mandalorian sử dụng quay những cảnh kỹ xảo phức tạp.

    Màn hình mô-đun (màn hình LED quảng cáo ngoài trời) có thể được sử dụng thay cho màn hình xanh hoặc máy chiếu, một thủ thuật được các nhà làm phim sử dụng. Sony đang giới thiệu một loạt các mô-đun màn hình có thể được sử dụng để tạo các cảnh quay kỹ xảo phức tạp (theo The Hollywood Reporter). Công nghệ này đã được Industrial Light & Magic và Epic Games sử dụng để tạo ra The Mandalorian.

    Các màn hình này thuộc dòng Crystal LED của Sony, bao gồm các tấm mô-đun sử dụng MicroLED hiện tại đang được ứng dụng rộng rãi trên các màn hình LED quảng cáo lớn. Công nghệ màn hình này và khả năng mở rộng mô-đun có nghĩa là bạn có thể tạo ra những màn hình lớn bằng cách ghép nối các mô-đun hiển thị với bộ điều khiển. Điều đó rất hữu ích nếu bạn đang cố gắng thiết lập một phông nền phía sau cho sân khấu hay các biển quảng cáo cực lớn.

    Chúng có độ sáng rất cao

    Những model được công bố hôm nay là một phần của dòng sản phẩm sử dụng trong sản xuất phim: chúng có lớp phủ chống phản chiếu và độ sáng cao. Sony cho biết chúng có thể hoạt động ở độ sáng 1.800 nits. Để so sánh, màn hình Pro Display XDR của Apple đang dẫn đầu với độ sáng 1.600 nits và đó là một màn hình cực kỳ sáng.

    Một lợi ích khi sử dụng phông nền với màn hình là ánh sáng mà chúng phát ra giúp diễn viên của bạn hòa nhập với ánh sáng của bối cảnh mà không cần xử lý hậu kỳ nhiều. Với các bộ màn hình xanh truyền thống, nền là một màu phẳng, đồng nhất và bạn phải chiếu sáng các diễn viên của mình như thể nền ảo đang thực sự tồn tại. Tuy nhiên, khi bạn đang sử dụng màn hình, nền ảo với ánh sáng của nó đã ở đó.

    Như một ví dụ để bạn dễ hình dung, hãy tưởng tượng một nhân vật đang ngồi trên sa mạc vào lúc hoàng hôn. Nếu bạn đang quay cảnh này với phông nền xanh, bạn sẽ phải thiết lập một loạt đèn để mô phỏng ánh sáng chiếu vào diễn viên tương tự như diễn viên đang ngồi trên sa mạc vào lúc hoàng hôn. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng màn hình, bạn có thể phát khung cảnh hoàng hôn lên màn hình để tạo ra ánh sáng cho diễn viên của bạn, giúp bạn dễ dàng có được một bức ảnh chân thực hơn.

    Trong một số trường hợp, sử dụng màn hình sẽ giúp bạn giảm được rất nhiều công việc hậu kỳ. Nếu nhân vật giả định của bạn trong cảnh quay đang đội một chiếc mũ bảo hiểm đẹp,  sáng bóng như gương và nếu bạn quay cảnh đó với phông nền xanh, thì chiếc mũ sẽ phản chiếu màu xanh của phông nền. Điều này sẽ thực sự gây ra vấn đề với bộ phận hậu kỳ, nếu không tin bạn cứ thử khi tách key phông xanh.

    Tuy nhiên, với màn hình microLED, mũ bảo hiểm có thể phản chiếu hình ảnh hiển thị xung quanh nó mà không cần phải xử lý hậu kỳ. Bạn có thể tưởng tượng những tấm nền này sẽ tạo ra kết quả tốt hơn và giảm được rất nhiều khối lượng công việc hậu kỳ.

    Sony cho biết những màn hình này có khả năng đạt tốc độ khung hình cao và 3D, vì vậy nó rất linh hoạt trong loại tín hiệu mà bạn có thể cung cấp cho chúng. Sony đang có kế hoạch cung cấp loại màn hình này “vào mùa hè” nhưng vẫn chưa đưa ra giá. Có khả năng đây là những sản phẩm chuyên dụng (dòng sản phẩm được “phát triển với sự hợp tác của Sony Pictures Entertainment”, chi nhánh sản xuất phim của Sony).

    Nguồn: biên tập thietbiketnoi.com theo Sony

  • Công nghệ OLED sắp trở nên đại trà với TV OLED 42 inch sắp ra mắt

    Công nghệ OLED sắp trở nên đại trà với TV OLED 42 inch sắp ra mắt

    Năm nay sẽ chứng kiến sự đại trà của tivi OLED với tấm nền OLED 42 inch được sản xuất hàng loạt, mở đường cho một thế hệ màn hình OLED nhỏ gọn hoàn toàn mới .

    Nhà sản xuất tấm nền màn hình LG Display đã xác nhận tin tức, bổ sung tùy chọn kích thước 42 inch ngoài kích thước TV OLED 48 inch của năm ngoái, kích thước 83 inch mới cho năm 2021 và 55 inch , 65 inch , 77 inch và 88 inch trong danh mục sản phẩm của mình.

    Đó chỉ là một trong những thông báo mà chúng tôi được nghe trong triển lãm CES 2021 – thật đáng buồn là sự kiện năm nay phải tổ chức trực tuyến – LG cũng công bố màn hình OLED có thể uốn cong do LG Electronics sản xuất, có thể chuyển từ màn hình phẳng sang màn hình cong.

    LG Display thông báo “họ sẽ củng cố dòng sản phẩm của mình bằng cách sản xuất tấm nền TV OLED 83 inch và 42 inch bắt đầu từ năm nay, bổ sung vào danh sách sản phẩm các loại 88 inch, 77 inch, 65 inch, 55 inch và 48- màn hình TV OLED. ”

    Chúng tôi cũng được thông báo rằng LG Display sẽ tìm cách “mở rộng dòng sản phẩm màn hình TV tầm trung của mình xuống phạm vi 20-30 inch, không chỉ TV mà còn cả các tùy chọn chơi game, di động và hiển thị cá nhân.” Những màn hình 20-30 inch trước đây hầu như là màn LCD, thay vì OLED, nhưng điều đó cho thấy LG Display đang phát triển mạnh mẽ trên các TV nhỏ với một động lực mới.

    Cần lưu ý rằng LG Display chỉ đơn thuần sản xuất các tấm nền, trong khi LG Electronics là tổ chức tiếp thị và bán TV tiêu dùng sử dụng tấm nền đó. Nhưng hiện tại vẫn chưa có xác nhận của LG Electronics về bất kỳ kế hoạch nào cho tấm nền kích thước mới.

    Chúng tôi hy vọng việc tung ra tấm nền TV OLED 42 inch sẽ tương tự như các mẫu 48 inch  năm 2020. Vài tháng sau khi thông báo LG Electronics tung ra một mẫu 48 inch LG CX, vì vậy có khả năng tấm nền kích thước mới sẽ được giới thiệu trên các dòng CX thế hệ tiếp theo.

    Tuy nhiên việc LG công bố kích thước mới cũng thúc đẩy các hãng khác sản xuất mẫu tương ứng ví dụ mẫu 48 inch của Sony A9 / A9S , Philips OLED + 935 và Beovision Contour , vì vậy chúng tôi cũng mong chờ các thương hiệu TV khác cũng sử dụng kích thước 42 inch mới nhất với tấm nền OLED.

    Doanh số các dòng TV nhỏ

    TV nhỏ có thể đạt doanh số lớn trong những năm tới – một xu hướng đã tăng nhanh kể từ những ngày đầu của đại dịch, khi mọi người đổ xô mua màn hình để làm việc và màn hình thứ hai cho ngôi nhà của họ.

    LG cũng có những dự đoán khá khả quan đối với TV OLED: “Trong khi 200.000 màn hình đã được xuất xưởng trong năm đầu tiên sản xuất TV OLED vào năm 2013, số lượng đơn vị được xuất xưởng đã đạt 4,5 triệu vào năm ngoái và LG Display có kế hoạch mở rộng con số đó lên từ 7 đến 8 triệu màn hình trong năm nay để củng cố lợi thế cạnh tranh của nó trên thị trường TV thế hệ tiếp theo và đẩy nhanh xu hướng OLED. ”

    Khi TV OLED ngày càng nhỏ hơn – và rẻ hơn – thì sự thống trị của công nghệ này trên thị trường TV sẽ chỉ tăng lên. Tuy nhiên, liệu nó có thể cạnh tranh được với những chiếc TV LCD giá rẻ ngoài kia hay không sẽ phụ thuộc vào mức giá của những chiếc TV mới này.

    Nguồn: Biên tập thietbiketnoi.com theo techradar